Lưu trữ

Archive for the ‘Chuyên Mục Linux’ Category

‘Cha đẻ’ Linux giơ ngón tay cái ở quầy Windows 7

Tháng Mười 28, 2009 Để lại phản hồi

Linus Torvalds tại quầy bán Windows 7. Ảnh của tác giả Chris đăng trên Picasa.

Theo mình nghĩ dù có muốn  hay không thì linux và window cũng sẽ  tồn tại song hành cùng nhau mà thôi .
Thấy trên báo Vnexpress có so sánh giữa linux và win (có bình chọn thắng bại)

Steve Ballmer và Linus Torvalds

Steve Ballmer, được mệnh danh là gã khổng lồ Goliath, đôi khi tạo dấu ấn bằng những hành động phấn khích. Microsoft phát triển như ngày nay một phần nhờ vị giám đốc điều hành mà Bill Gates bổ nhiệm năm 2000. Ballmer đã thâu tóm nhiều công ty như Visio, Great Plains và Groove Networks. Nhưng với xu hướng di cư phần mềm lên web, ông cần sáp nhập thêm các đơn vị như Yahoo hay Facebook mới có thể giúp Microsoft đứng vững.

Linus Torvalds, chàng tí hon David, tuyên bố không chống lại Microsoft. Ông chỉ đơn giản không thấy hứng thú với các sản phẩm của hãng này và muốn phát triển một hệ điều hành nguồn mở miễn phí. Nhờ Torvalds, nhiều người bắt đầu tin rằng mã mở sẽ là tương lai của ngành công nghiệp điện toán.

Thăm dò ý kiến
Ballmer hay Torvalds sẽ thắng?

 

Ballmer.
Torvalds.
Bất phân thắng bại.

Alexbtp – Akantemt – Viet Matrix Revolutions

Password cho GRUB/LILO

Tháng Chín 7, 2009 Để lại phản hồi

1. Trên Linux, việc reset password cho account root có thể thực hiện một cách dễ dàng bằng chế độ boot single-user


1.1 Trên GRUB:

Khi màn hình chọn kernel để boot xuất hiện, nhấn “e” để vào chế độ edit các tham số khởi động.
Chọn dòng chứa tham số kernel. Ví dụ:

kernel /boot/vmlinuz-2.6.11 ro root=LABEL=/

Nhấn “e” để vào cửa sổ soạn thảo.
Di chuyển đến cuối dòng, thêm chữ “single” vào. Press Enter để lưu thay đổi. Gõ “b” để boot với chế độ single-user.
Bạn sẽ có được cái shell của root mà không bị hỏi password gì cả. Lúc này chỉ bằng lệnh “passwd” bạn đã có thể dễ dàng đổi password root rồi đó! Xong gõ “exit” để hệ thống tiếp tục boot bình thường.

2.2 Trên LILO:
Nếu bạn dùng LILO ở chế độ graphic thì khi màn hình LILO hiện lên nhấn “Ctrl-x” để thoát giao diện đồ họa và vào dấu nhắc “boot:”. Gõ vào
linux single
Sau đó bạn sẽ được vào account root mà không cần password gì cả! Thực hiện đổi pass như trên.

2. Vậy thì bất cứ ai ngồi trên Linux box của bạn cũng có thể chiếm quyền root? Yeah. Giải pháp: Đặt password cho boot loader GRUB/LILO.
2.1 Protecting GRUB
Không cho edit GRUB config để vào single mode.
•Tạo password grub được hash với md5Gõ /sbin/grub-md5-cryptGõ password Grub vào
Ta được một giá trị hash
•Edit GRUB config file: /boot/grub/grub.conf: Phía dưới dòng timeout thêm vào: password –md5
Bonus: Bắt phải nhập password GRUB mới được khởi động HDH:
•Gõ vào phía dưới dòng title: lock
•Gõ password –md5 vào

2.2 Protecting LILO
Phải nhập pass để boot:
•Edit file /etc/lilo.conf: trước image, thêm vào password=
•Chạy /sbin/lilo –v –v để update lilo
Bảo vệ cụ thể cho image nào: trước image=/boot/vmlinuz- dòng password=

Cho phép user khởi động nhưng không cho thêm tham số để vào single-usermà không có password: thêm dòng restricted vào phía dưới password.

Hãy đặt thêm password cho GRUB/LILO để tránh bị mất quyền điều khiển hệ thống khi sơ ý.

Cài đặt mysql – phpmyadmin trong ubuntu

Tháng Năm 24, 2009 4 comments

Chào các bạn .

Hôm nay mình sẽ hướng dấn cài đặt mysql và phpmyadmin trong ubuntu

Desktop của Trina_Anh - Viet Matrix Revolutions

Desktop của Trina_Anh - Viet Matrix Revolutions


Xem ảnh đúng kích thước

Xem bài hướng dẫn cài đặt tại

http://www.quantrimang.com/view.asp?Cat_ID=5&Cat_Sub_ID=0&news_id=39230

Ở đây mình dùng ubuntu 9.04

Mình cài theo bài hướng dẫn trên ,nhưng không được

Giờ mình chỉ các bạn fix lỗi để chạy thành công

Bước 3: Đây là bước quan trọng, nhập dòng lệnh sau vào Terminal:

mysql -u root

Điều này thì Trina_Anh thấy không đúng

Phải thay bằng

mysql -u root -p

Lúc này sẽ chuyển sang môi trường làm việc mysql


Và vấn đề thứ 2 là

Sau khi kết thúc quá trình cài đặt theo bài hướng dẫn trên quản trị mạng thì Trina_Anh không chạy được phpmyadmin

http://localhost/phpmyadmin –>Báo là không có thư mục

Để chạy được thì Trina_Anh phải config như sau

Mở Terminal

chạy dòng lệnh sau

sudo apt-get install phpmyadmin

Sau đó config lại file apache2.conf

Thực hiện lệnh sau

gksudo gedit /etc/apache2/apache2.conf

Thêm vào dòng

Include /etc/phpmyadmin/apache.conf

Và sau đó restart lại apache bằng lệnh

sudo /etc/init.d/apache2 restart

Rồi vào http://locahost/phpmyadmin

Kết quả ok

Trina_Anh – Viet Matrix Revolutions

Một số việc cần làm sau khi cài Ubuntu 9.04

Tháng Năm 22, 2009 1 comment

Giao diện Ubuntu 9.04

Theo đánh giá của anh AlexBTP là phiên bản này khá tốt

[Chạy chung với winxp trên laptop mà rất nhanh .Dường như window làm đựoc điều gì thì Ubuntu cũng có thể làm đựoc điều đó (Chỉ mỗi tội khi cài đặt hơi mệt tí , chứ cài xong rồi thì run ok )

Sau đây xin đăng tải lại bài nói về bước đầu sau khi cài đặt thành công

Một số việc cần làm sau khi cài Ubuntu 9.04.

Ubuntu 9.04 đã chính thức phát hành. Uhm, cài xong thì làm gì nhỉ? Có 1 số thứ cần phải chỉnh sửa sao cho hợp với mình đây.
1. Thay đổi mirror để việc update cũng như cài đặt các phần mềm tiện lợi hơn:
- Trong terminal ( Applications -> Accessories -> Terminal ) gõ sudo gedit /etc/apt/sources.list
- Cửa sổ hiện ra, chèn # trước mirror không cần thiết, và bỏ # đi trước các mirror sẽ dùng.
- 2 mirror tốt của Việt Nam hiện nay
. Của hanoi-lug: http://virror.hanoilug.org/, khá ổn định, ngoài Ubuntu ra còn có 1 số distro thông dụng như Debian, Fedora, CentOS
. Của FPT: http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/, tốc độ cao, đặc biệt với ai dùng mạng FPT ở Việt Nam thì tốt thôi rồi nhưng nhược là khi gửi quá nhiều yêu cầu tới mirror này thì … request time out ngay, phải đợi xong yêu cầu trước nó mới thực hiện yêu cầu sau ( có gọi là nhược được không nhỉ :D ).
2. Cài các gói phần mềm thiết yếu:
- Bao gồm các gói hỗ trợ flash, hỗ trợ nghe các bản nhạc với định dạng có bản quyền nhưng miễn phí ( như MP3.. ) các bộ font Unicode …
- Để cài đặt, trong terminal gõ sudo apt-get install ubuntu-restricted-extras , yêu cầu nhập pass, gõ pass vào và đợi.
3. Cài từ điển Stardict:
- Đây là bộ từ điển OpenSource nổi tiếng trên thế giới, có thể chạy tốt trên nhiều môi trường khác nhau ( Linux, Windows ..)
- Các bài viết hướng dẫn về cài đặt và sử dụng bộ từ điển này có rất nhiều trên mạng, có thể tìm kiếm ở google rất nhanh, sau đây là 1 số link dẫn tới những bài viết hướng dẫn khá hay và đầy đủ
http://forum.ubuntu-vn.org/viewtopic.php?f=17&t=336
http://saylinux.wordpress.com/2007/12/04/cai-dat-stardict/
4. Cài bộ gõ tiếng Việt:
a. Giới thiệu:
- Lê Quốc Tuấn, thành viên có nick zj3t3mju trên diễn đàn của cộng đồng Ubuntu Việt Nam ( http://www.ubuntu-vn.org ) đã viết engine của Unikey cho bộ gõ SCIM, được đặt tên là SCIM-Unikey. Bộ gõ này có ưu điểm là tích hợp được với Scim cài sẵn xong Ubuntu ( cũng như Kubuntu .. ) và lại có cơ chế bỏ dấu cũng như gõ thông minh của Unikey.
- Phiên bản mới nhất của bộ gõ này có thể xem ở trang chủ dự án: http://code.google.com/p/scim-unikey/
- Hỗ trợ từ phía tác giả và cộng đồng: http://forum.ubuntu-vn.com/viewforum.php?f=85
b. Cài đặt:
- Nếu như chưa có kinh nghiệm cài đặt từ source hoặc … lười build thì tốt nhất nên cài đặt từ các bản DEB đã có sẵn trên trang chủ – các phiên bản này khá ổn định vì được các thành viên của Ubuntu-vn test và build lại. Phiên bản mới nhất có trên trang chủ dành cho Ubuntu 9.04 là 0.2.0~20090417-1
- Download Scim-Unikey tại trang chủ

1.wget http://scim-unikey.googlecode.com/files/scim-unikey_0.2.0%7E20090417-1ubuntu0%7Ejaunty_i386.deb

- Cài đặt

1.sudo dpkg -i scim-unikey_0.2.0~20090417-1ubuntu0~jaunty_i386.deb

sau khi cài đặt trong, vào System → Administrator → Languages Support, tick chọn User input method engines (IME) to enter complex characters

Logout và login lại vào hệ thống, lúc này trên hệ thống sẽ xuất hiện biểu tượng bàn phím, đó là biểu tượng của SCIM.
- Sử dụng: mở 1 trình editor nào đó, như gedit, OpenOffice …, để gõ tiếng Việt trong trình editor đó, click chuột trái vào biểu tượng Scim, xuất hiện các kiểu gõ cho bạn lựa chọn, chọn kiểu gõ và giờ bạn đã có thể gõ tiếng Việt với Scim-Unikey rồi đó.

Để chuyển qua lại giữa các bộ gõ, sử dụng phím tắt quen thuộc của SCIM là Ctrl + Space
Mọi vấn đề về Scim-Unikey có thể được giải đáp tại trang hỗ trợ của cộng đồng Ubuntu Việt Nam

Nguồn :

http://blog.hapm.info/2009/04/mot-so-viec-can-lam-sau-khi-cai-ubuntu-904/

Ubuntu 9.04

Tháng Năm 13, 2009 Để lại phản hồi

Đối với những bạn làm bên bảo mật , hay sử dụng mã nguồn mở chắc hẳn sẽ không lạ gì với ubuntu

Ngày càng nhiều người (có kiến thức về tin học) chuyển sang dùng mã nguồn mở Linux mà ubuntu cũng luôn là sự lựa chọn cho những người mới bắt đầu

Giao diện ubuntu 9.04 - Viet Matrix Revolutions

Giao diện ubuntu 9.04 - Viet Matrix Revolutions

Bạn có thể tải phiên bản mới tại địa chỉ

http://www.ubuntu.com/getubuntu/download

Hay

http://ubuntu.media.mit.edu/ubuntu-releases/9.04/
Xem thêm những ưu điểm của phiên bản mới

http://www.ubuntu.com/getubuntu/releasenotes/904

Bạn có thể tham khảo 1 số thông tin về version 9.04 sau :
Trong Ubuntu 9.04 có những cải tiến lớn và những nâng cấp nhỏ. Bài viết này sẽ điểm qua những thay đổi lớn để giúp bạn quyết định có nâng cấp hay không (nếu bạn vẫn còn sử dụng bản 8.10).

Ext4

Đây chính là phiên bản hỗ trợ hệ thống định dạng file ext4 đầu tiên. Ưu điểm quan trọng nhất của nó là giờ đây Ubuntu sẽ hỗ trợ một phân vùng lớn không thể tưởng – tới 1 Exabyte (tỉ GB), còn dung lượng một tập tin riêng lẻ có thể lên đến 16 Tetrabyte (nghìn GB).

Cải tiến tiếp theo của định dạng file mới này hỗ trợ hai công nghệ cấp phát chỗ: pre-allocation (cấp phát trước, tăng cường hiệu năng cho hệ thống như streaming các tập tin đa phương tiện và cơ sở dữ liệu) và delayed allocation (cấp phát trễ, cải thiện vấn đề phân mảnh tập tin).

Ext4 hiện giờ chỉ ở dạng cho dùng thử không mặc định. Nếu tình hình phản hồi từ người dùng tốt, nó có thể sẽ trở thành mặc định trong phiên bản 9.10 kế tiếp.

Điện toán đám mây

Việc ứng dụng điện toán đám mây ở phiên bản 9.04 đã trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết với sự giúp đỡ của Eucalyptus. Ứng dụng này cho phép bạn cài đặt và thử nghiệm đám mây của riêng mình phù hợp với API của Amazone EC2.

GNOME 2.26.0

Bản GNOME mới nhất này đem lại cái nhìn mới cho desktop. Trình Brasero CD có lẽ là ứng dụng ghi đĩa dễ dùng nhất trên Linux từ trước đến giờ.

Ngoài ra, GNOME mới còn thao tác với nhiều monitor cùng lúc tốt hơn nhiều nhờ gnome-display-properties.

X.org

Có lẽ điều khiến người ta thích thú nhất lần này là số lượng trình điều khiển thiết bị được cung cấp miễn phí. Bên cạnh đó là driver cho card ATI đã được cải tiến lên rất nhiều. Một cải tiến rất quan trọng trong số đó là việc sử dụng sự tăng tốc EXA.

Hiệu năng cho các hiệu ứng 3 chiều ở Ubuntu 9.04 chắc chắn sẽ tăng lên đáng kể với tất cả các chipset được hỗ trợ.

Thời gian khởi động

Ubuntu đang tiến dần đến con số 20 giây được hứa hẹn. Thực ra tác giả bài viết từng thấy Ubuntu 9.04 khởi động trong 17,4 giây (với ổ SSD)!

Nhân

Rất rất nhiều lỗi kernel đã được sửa trong phiên bản mới, bao gồm nhiều lỗi về USB, PCI, và Firewire. Những cải tiến này chắc sẽ làm cho trải nghiệm đa phương tiện của bạn thêm phần thú vị!

Hỗ trợ nhiều kiến trúc hơn

Với sự hỗ trợ bộ vi xử lí ARM, Ubuntu ngày càng đặt sâu bước chân của mình vào thị trường netbook hơn.

Tổng kết

Ubuntu gần đây bị than phiền về hiệu năng. Kể từ bản 7.04 đến 8.10, hiệu năng cứ giảm dần. Nhóm phát triển Ubuntu đã tập trung giải quyết vấn đề này.

Phiên bản 9.04 là một bản cải tiến nhỏ theo đúng nghĩa, thiên về kĩ thuật hơn là những thể hiện với người dùng. Nhưng các cải tiến về hiệu năng cho đa phương tiện và đồ hoạ 3D có thể khiến bạn muốn nâng cấp.

(Theo Ghacks – Hoàng Hoan dịch)

Viet Matrix Revolutions Biên tập và tổng hợp

Các lệnh Shell cơ bản trong Linux

Tháng Năm 5, 2009 Để lại phản hồi

Khi mở một shell, bạn cần đến tài khoản kích hoạt vào thư mục chủ (thông thường nằm trong /home/tên_người_dùng).

Chú ý rằng mỗi lệnh đều có nhiều tùy chọn riêng của mình. Để xem các tùy chọn cho một lệnh cụ thể, đơn giản bạn chỉ cần gõ “man <command>” (trong đó: man là từ khóa; command là tên lệnh). Một điểm quan trọng cần chú ý là trong các hệ điều hành Linux, câu lệnh có phân biệt chữ hoa, chữ thường. “A” sẽ được hệ điều hành hiểu là khác so với “a”.

Để vào hệ thống file, dùng:

- pwd: đưa ra ngoài màn hình thư mục đang hoạt động (ví dụ: /etc/ssh).

- cd: thay đổi thư mục (ví dụ: cd .. – ra một cấp thư mục hiện tại; cd vidu – vào thư mục /vidu).

- ls: đưa ra danh sách nội dung thư mục.

- mkdir: tạo thư mục mới (mkdir tên_thumuc).

- touch: tạo file mới (touch ten_file).

- rmdir: bỏ một thư mục (rmdir ten_thumuc).

- cp: copy file hoặc thư mục (cp file_nguồn file_đích).

- mv: di chuyển file hoặc thư mục; cũng được dùng để đặt lại tên file hoặc thư mục (mv vị_trí_cũ vị_trí_mới hoặc mv tên_cũ tên_mới).

- rm: loại bỏ file (rm tên_file).

Để tìm kiếm file, bạn có thể dùng:

- find <tiêu chuẩn tìm kiếm>: dùng cho các tên file.

- grep < tiêu chuẩn tìm kiếm>: để tìm nội dung trong file.

Để xem một file, bạn có thể dùng:

- more <tên file>: hiển thị file theo từng trang.

- cat < tên file>: hiển thị tất cả file.

- head < tên file>: hiển thị các dòng đầu tiên.

- tail < tên file>: hiển thị các dòng cuối cùng (có thể hữu ích trong những trường hợp như khi bạn muốn xem thông tin cuối cùng của một file hệ thống).

Để chính sửa file, bạn phải sử dụng trình soạn thảo tích hợp sẵn trên dòng lệnh. Thông thường, đây là vi và được dùng với cú pháp: vi <tên file>.

Để giải nén một lưu trữ (thông thường có đuôi tar.gz), bạn phải dùng lệnh tar với cú pháp tar -xvf <tên_file>.

Để in một file, dùng lệnh lpr <tên_file>. Chú ý là bạn phải có một số daemon hoạt động để quản lý máy in. Thông thường đây là các cup (chủ yếu là UNIX Printing System) có thể sử dụng cho tất cả các phân phối chính.

Để loại bỏ file khỏi hàng đợi ở máy in (bạn có thể lên danh sách hàng đợi bằng lệnh lpq), sử dụng câu lệnh lprm <tên_file>.

Để lắp hoặc gỡ bỏ thiết bị (thêm vào hệ thống file với vai trò như một phương tiện được phép sử dụng), dùng:

- mount /mnt/floppy: lắp thêm ổ mềm.

- umount /mnt/floppy: gỡ bỏ ổ mềm.

- mount /mnt/cdrom: lắp ổ CD-ROM.

- mount /mnt/cdrom: gỡ ổ DC-ROM.

Các thiết bị này thường được cài và cho phép sử dụng một cách tự động. Nhưng có thể một ngày đẹp trời nào đó bạn lại phải tự mình thực hiện công việc này khi có lỗi xảy ra. Đừng lo lắng!

Để tạo một phân vùng

Đầu tiên, tạo một thư mục trong /mnt (mkdir /mnt/ổ_đĩa_mới). Sau đó sử dụng lệnh mount (mount /dev/source /mnt/ ổ_đĩa_mới), trong đó /dev/source là thiết bị (tức phân vùng) bạn muốn lắp thêm vào hệ thống file.

Nếu muốn kết nối tới một host từ xa, sử dụng lệnh ssh. Cú pháp là ssh <tên_host>.

Quản lý hệ thống:

- ps: hiển thị các chương trình hiện thời đang chạy (rất hữu ích: ps là cái nhìn toàn bộ về tất cả các chương trình).

Trong danh sách đưa ra khi thực hiện lệnh ps, bạn sẽ thấy có số PID (Process identification – nhân dạng tiến trình).

Con số này sẽ được hỏi đến khi muốn ngừng một dịch vụ hay ứng dụng, dùng lệnh kill <PID>.

- top: hoạt động khá giống như Task Manager trong Windows. Nó đưa ra thông tin về tất cả tài nguyên hệ thống, các tiến trình đang chạy, tốc độ load trung bình… Lệnh top -d <delay> thiết lập khoảng thời gian làm tươi lại hệ thống. Bạn có thể đặt bất kỳ giá trị nào, từ .1 (tức 10 mili giây) tới 100 (tức 100 giây) hoặc thậm chí lớn hơn.

- uptime: thể hiện thời gian của hệ thống và tốc độ load trung bình trong khoảng thời gian đó, trước đây là 5 phút và 15 phút.

Thông thường tốc độ load trung bình được tính toán theo phần trăm tài nguyên hệ thống (vi xử lý, RAM, ổ cứng vào/ra, tốc độ load mạng) được dùng tại một thời điểm. Nếu tốc độ được tính toán là 0.37, tức có 37% tài nguyên được sử dụng. Giá trị lớn hơn như 2.35 nghĩa là hệ thống phải đợi một số dữ liệu, khi đó nó sẽ tính toán nhanh hơn 235% mà không gặp phải vấn đề gì. Nhưng giữa các phân phối có thể khác nhau một chút.

- free: hiển thị thông tin trên bộ nhớ hệ thống.

- ifconfig <tên_giao_diện>: để xem thông tin chi tiết về các giao diện mạng; thông thường giao diện mạng ethernet có tên là eth(). Bạn có thể cài đặt các thiết lập mạng như địa chỉ IP hoặc bằng cách dùng lệnh này (xem man ifconfig). Nếu có điều gì đó chưa chính xác, bạn có thể stop hoặc start (tức ngừng hoặc khởi_động) giao diện bằng cách dùng lệnh ifconfig <tên_giao_diện> up/down.

- passwd: cho phép bạn thay đổi mật khẩu (passwd người_dùng_sở_hữu_mật_khẩu hoặc tên người dùng khác nếu bạn đăng nhập hệ thống với vai trò root).

- useradd: cho phép bạn thêm người dùng mới (xem man useradd).

Dù ở phân phối nào, bạn cũng có thể dùng phím TAB để tự động hoàn chỉnh một lệnh hoặc tên file. Điều này rất hữu ích khi bạn quen với các lệnh. Bạn cũng có thể sử dụng các phím lên, xuống để cuộn xem các lệnh đã nhập. Bạn có thể dùng lệnh đa dòng trên một dòng. Ví dụ như, nếu muốn tạo ba thư mục chỉ trên một dòng, cú pháp có thể là: mkdir thư_mục_1 ; mkdir thư_mục_2 ; mkdir thư_mục_3.

Một điều thú vị khác nữa là các lệnh dạng pipe. Bạn có thể xuất một lệnh thông qua lệnh khác. Ví dụ: man mkdir | tail sẽ đưa ra thông tin các dòng cuối cùng trong trang xem “thủ công” của lệnh mkdir.

Nếu lúc nào đó được yêu cầu phải đăng nhập với tài khoản gốc (tức “siêu” admin của hệ thống), bạn có thể đăng nhập tạm thời bằng cách dùng lệnh su. Tham số -1 (su-1) dùng để thay đổi thư mục chủ và cho các lệnh đã hoặc đang dùng. Chú ý là bạn cũng sẽ được nhắc một mật khẩu.

Để thoát hay đóng shell, gõ exit hoặc logout.

Sử dụng MPlayer để xem phim trên Ubuntu

Tháng Năm 5, 2009 Để lại phản hồi

Với Totem Player và các codec có sẵn bạn đã có thể chơi được hầu hết các định dạng thông thường. Tuy nhiên với MPlayer bạn có thể xem được film MPEG, VOB, AVI, Ogg/OGM, VIVO, ASF/WMA/WMV, QT/MOV/MP4, FLI, RM, NuppelVideo, YUV4MPEG, FILM, RoQ, PVA , VCD, SVCD, DVD, 3ivx, DivX 3/4/5, WMV.

Chơi được nhiều định dạng nhạc.

Với Ubuntu 7.10

Bạn có thể tìm thấy mplayer ở trong Synaptic. Lúc cài đặt Mplayer bạn sẽ cài đặt phần chính của nó. Tuy nhiên bạn cần có thêm gói w32codecđể xem các định dạng trên windows, và gói libdvdcss2 để xem DVD.

Để lấy nó bạn có thể dùng lệnh (chú ý viết chung 1 dòng)
sudo wget http://www.medibuntu.org/sources.list.d/gutsy.list -O /etc/apt/sources.list.d/medibuntu.list

sau đó là lệnh

wget -q http://packages.medibuntu.org/medibuntu-key.gpg -O- | sudo apt-key add -

sudo apt-get update

sudo apt-get install w32codecs libdvdcss2

Với gói libdvdcss2 có kích thước nhỏ nên bạn có thể down nhanh nhưng với gói w32codecs thì kích thước lại lớn >13 mb bạn có thể cài đặt riêng (chỉ dùng lệnh sudo apt-get install libdvdcss2 )

Gói codec đó có thể download tại http://www.mplayerhq.hu/design7/dload.html

http://www5.mplayerhq.hu/MPlayer/releases/codecs/essential-20071007.tar.bz2

Giải nén ra 1 thư mục.

Rồi dùng

sudo nautilus

(lệnh này dùng để truy cập sử đổi tập tin thư mục bằng quyền root)

Để chép các file đó vào thư mục

usr/lib/codecs/

Trong thư mục usr/share/lintian/overrides/ tạo file w32codecs với nội dung

w32codecs: shared-lib-without-dependency-information ./usr/lib/codecs/vid_h261.xa
w32codecs: shared-lib-without-dependency-information ./usr/lib/codecs/vid_h263.xa
w32codecs: shared-lib-without-dependency-information ./usr/lib/codecs/vid_iv32.xa
w32codecs: shared-lib-without-dependency-information ./usr/lib/codecs/vid_iv41.xa
w32codecs: shared-lib-without-dependency-information ./usr/lib/codecs/vid_iv50.xa
w32codecs: shared-lib-without-dependency-information ./usr/lib/codecs/vid_cvid.xa
w32codecs: shared-lib-without-dependency-information ./usr/lib/codecs/vid_cyuv.xa
Nếu bạn gặp lỗi gnome_screensaver_control gây phiền phức. Bạn có thể xử lý nó bằng cách nhấn chuột phải -> vào preferences -> Tab Misc bỏ chọn Stop Screen Saver

Thủ thuật cài offline các gói phần mềm trong Ubuntu

Tháng Năm 5, 2009 Để lại phản hồi

Cũng như các hệ điều hành Linux khác, Ubuntu hỗ trợ tương đối tốt việc cài đặt các gói phần mềm qua mạng Internet. Khi cài đặt một phần mềm nào đó, bạn chỉ cần gõ một vài câu lệnh đơn giản, Ubuntu sẽ tự động tải về các gói phần mềm cần thiết và cài đặt.

Nhưng nếu máy tính của bạn không nối mạng Internet thì khác hẳn, việc tìm đủ các gói cần thiết để cài một phần mềm nào đó, hay biên dịch mã nguồn… tương đối phức tạp, đặc biệt đối với những người không chuyên. Bài viết dưới đây giới thiệu với các bạn thủ thuật lưu và sử dụng offline các gói phần mềm đã cài đặt trong Ubuntu.

Chỉ với một máy tính cài Ubuntu có nối mạng Internet, bạn có thể copy các phần mềm cần sử dụng và đem cài offline trên tất cả các máy khác trong hệ thống. Thủ thuật này cũng rất hữu ích khi bạn cần sao lưu các gói phần mềm đã cài đặt, sau này vì lý do nào đó phải cài lại HĐH, bạn khỏi mất công tải lại từ mạng Internet. Các bước thực hiện cụ thể như sau:

I. Sao lưu các gói phần mềm (trên máy tính có nối mạng Internet, nên tiến hành thực hiện sau khi cài Ubuntu, để đảm bảo tất cả các gói cần sử dụng đều được tải về khi cài đặt).

Bước 1. Đăng nhập với user ROOT.

Bước 2. Vào thư mục /var/cache/apt/archives chuyển hết các tệp có đuôi *.deb (nếu có) cất ra thư mục khác, chỉ để lại thư mục partial và tệp lock.

Bước 3. Tiến hành cài đặt phần mềm (dùng lệnh sudo apt-get install ten_phan_mem hoặc dùng Applications -> Add/Remove…). Sau khi đặt phần mềm, bạn sẽ thấy các gói cài đặt *.deb đã được tải về thư mục /var/cache/apt/archives.

Bước 4. Chuyển toàn bộ những gói cài đặt *.deb trong thư mục /var/cache/apt/archives lưu riêng thành một thư mục, (nên đặt tên thư mục gợi nhớ đến phần mềm vừa cài), các gói này sẽ được sử dụng để cài offline trên các máy không kết nối Internet.

Lặp lại bước 3 và 4 đến khi xong các gói phần mềm cần cài đặt.

Chú ý:

- Có thể một số gói phần mềm liên quan đã được tải về và cài đặt, nếu trước đó bạn đã cài những phần mềm khác.

- Khi mới cài xong Ubuntu, bạn nên dùng lệnh sudo apt-get update và sudo apt-get upgrade để cập nhật, nâng cấp các gói phần mềm, rồi bạn lưu bộ cập nhật đó để sử dụng.

II. Cài offline các gói phần mềm đã được sao lưu

Bước 1. Đăng nhập hệ thống với user ROOT (khuyên dùng, tuy vậy bạn cũng có thể đăng nhập bằng user khác).

Copy thư mục chứa các gói phần mềm cần cài đặt vào máy tính.

Bước 2. Khởi động terminal (chọn Applications -> Accessories -> Terminal hoặc gõ Alt+F2 rồi gõ tiếp gnome-terminal và ấn Enter).

Bước 3. dùng lệnh cd /<đường dẫn> để chuyển đến thư mục chứa gói phần mềm cần cài đặt.

Bước 4. gõ lệnh sau để hệ thống cài đặt các gói *.deb trong thư mục: sudo dpkg -i *.deb

Chú ý:

- Bạn nên chạy các gói cập nhật/nâng cấp trước để cập nhật/nâng cấp hệ thống.

- Bạn có thể cài đặt bằng cách nhấn đúp vào gói cài *.deb rồi chọn Install Package, khi đó bạn phải chú ý đến thứ tự các gói cài đặt, nếu có nhiều gói.

nguồn qtm

Categories: Chuyên Mục Linux

Hướng dẫn cách phân vùng khi cài đặt các phiên bản Linux (Ubuntu) (6) – Kết Thúc

Tháng Năm 5, 2009 Để lại phản hồi

Nếu mount point không thể chọn được có thể phân vùng đó vẫn là Unallocate bạn phả chọn Use as rồi Ok trước (nhớ tick vào phần Format). Sau đó mới chọn lại vào Mount Point được.

Tới lúc này bạn đã có thể yên tâm mà cài đặt Ubuntu rồi.
Tiếp theo Ubuntu sẽ quét những thông tin của người dùng ở Windows cũ như ảnh nền, thiết lập Firefox, Bookmark để có thể đem vào sử dụng cho Ubuntu.
Phần tiếp theo là phần cài đặt GRUB. Mặc định khi cài bằng LiveCD thì 1 GRUB sẽ được cài vào MBR (MBR không thể chứa nổi cả chương trình GRUB) và file cấu hình, phần còn lại của GRUB sẽ nằm ở thư mục /boot . Bạn cứ yên tâm rằng Ubuntu sẽ nhận ra Windows XP có sẵn và sẽ để nó xuất hiện trong lúc Boot thôi.

Bạn có thể tham khảo thêm về phần cài đăṭ phân vùng của Debian http://www.debian.org/releases/stable/hppa/apc.html.vi

Categories: Chuyên Mục Linux

Hướng dẫn cách phân vùng khi cài đặt các phiên bản Linux (Ubuntu) (5)

Tháng Năm 5, 2009 Để lại phản hồi

Bạn có thể đánh dấu vào Format để xóa dữ liệu trên phân vùng cũ và định dạng phân vùng mới. Sau khi chọn phân vùng để chứa thư mục gốc / (thư mục này sẽ chứa tất cả các thư mục khác trong Linux nếu thư mục đó có phân vùng nào Mount tới) bạn sẽ chọn Edit Partition, Mount Point chọn / (định dạng dĩ nhiên là EXT3. Kích thước của phân vùng này nếu không mount các thư mục khác nên là 8(GB) để xài cho đã.
Ngoài ra bạn có thể tạo mount một phân vùng khác đến thư mục Home (dùng để chứa dữ liệu cá nhân của người dùng như văn bản, nhạc … (Ổ đĩa trong Linux khác với ổ đĩa trong Windows ở chỗ là cần phải mount nó vào một thư mục mới có thể truy cập và sửa đổi được). Mọi người dùng bình thường chỉ có thể sử dụng thư mục của họ trong thư mục Home. Một lợi thế khi sử dụng phân vùng này là bạn có thể cài đặt lại bản Linux mà không sợ ảnh hưởng đến dữ liệu của mình.

Muốn biết thêm về các thư mục khác bạn có thể vào http://www.debian.org/releases/stable/hppa/apcs02.html.vi để tham khảo.

Tiếp theo mình chọn một phân vùng để làm SWAP. (Kích thước theo lời khuyên của mọi người là = 2 lần số RAM của bạn có. Nhưng với máy của mình RAM nhiều nên cũng thường bỏ qua không tạo phân vùng SWAP). Nhiệm vụ của phân vùng SWAP dùng để thay thế RAM để tăng tốc máy khi máy gần hết RAM.

Categories: Chuyên Mục Linux
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.