Trang chủ > OOP - JAVA > Máy vi tính hoạt động như thế nào?

Máy vi tính hoạt động như thế nào?

Nhiều bạn nghĩ tôi đưa bài này vào mục OOP – JAVA liệu có nhầm lẫn không ?
Theo tôi thì không và không . Chúng ta nên hiểu 1 cách cụ thể sẽ tốt hơn trong lúc viết chương trình .
Tài liệu này thuộc quyền
Krzysztof Barteczko (kb@pjwstk.edu.pl)

© Krzysztof Barteczko 2008
© Đại học Công Nghệ Thông Tin Ba Lan – Nhật Bản (Polsko – Japońska Wyższa Szkoła Technik Komputerowych 2008)

====================

Như chúng ta biết, thông thường máy tính cá nhân (PC) có chứa: bộ vi xử lý trung tâm (CPU) , bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên (gắn trên bảng mạch chủ), và các dụng cụ/thiết bị ngoại vi khác (một số gắn liền trên đĩa chủ) như card màn hình, đĩa, card âm thanh, card mạng, modem, màn hình, …). Chúng ta gọi tất cả các thành phần đó của máy tính là phần cứng (hardware).
Nhưng như thế có đủ để máy tính có thể thực hiện được các công việc phổ biến như:

  • viết và soạn thảo văn bản
  • tính toán trong chương trình bảng tính (như Microsoft Excel chẳng hạn)
  • tìm kiếm trong các cơ sở dữ liệu
  • tìm kiếm thông tin trên mạng Internet
  • gửi và nhận thư điện tử

Câu trả lời là: không đủ, thậm chí phần cứng hiện đại nhất. Cần phải có phần mềm (software).

Chương trình là một chuỗi các lệnh (đã qua mã hóa) được thực hiện bởi bộ vi xử lý trung tâm (hoặc bởi các thiết bị phần cứng khác thông qua bộ vi xử lý trung tâm).

Hệ điều hành là một bộ những chương trình quản lý các tài nguyên của máy tính điều khiển hệ thống tệp tin, quản lý chạy chương trình, chia thời gian của bộ vi xử lý trung tâm dành cho các chường trình, thông tin giữa các chương trình và giao tiếp với người sử dụng.

Sự biểu diễn lệnh qua những con số, mà CPU có thể hiểu được gọi là mã máy hoặc ngôn ngữ máy.

Một chuỗi các lệnh của ngôn ngữ máy tính có thể có hình dạng như sau:
10001010 10001000 00000001 11001010 …..

Dãy số kỳ quặc được hình thành từ số 0 và số 1 này có nghĩa là gì?
Đây chính là một bản ghi thông tin (trong trường hợp này là mã của một chương trình) trong ngôn ngữ máy tính như là một chuỗi các con số của hệ đếm nhị phân. Thông tin được máy tính hiểu phải được mã hoá theo cách này bởi vì các thiết bị số đếm thường có một loạt các trạng thái cơ bản, mỗi trạng thái có có thể được quy định

“bật” – ON (1) hoặc “tắt” – OFF (0).

Lượng thông tin nhỏ nhất mà có thể được xử lý bởi máy tính là con số “0” hoặc số “1” trong hệ nhị phân. Lượng thông tin này được gọi là một bit.

Byte đóng một vai trò quan trọng trong khoa học máy tính.

1 byte = 8 bit
Một CPU vận hành trên những đơn vị được gọi là machine word,bao gồm một số lượng số nguyên các byte. Một byte là một nhóm nhỏ nhất machine word có thể truy cập được cho CPU. Các mã lệnh cho CPU được hình thành từ một hoặc nhiều byte. Các ký tự cũng được mã hoá thành số từ một byte (ASCII, EBCDIC) hoặc nhiều byte (DSCB hay Unicode – bộ mã tiêu chuẩn quốc tế đa ngôn ngữ).

 

Machine word – từ trong các chương trình xử lý là đơn vị nhỏ nhất có thể định vị được trong bộ nhớ truy nhập ngẫu nhiên. Nó cũng tương ứng với kích cỡ thanh ghi của CPU (bộ nhớ trong cực nhanh mà trên đó CPU lưu trũ các dữ liệu tạm thời cho những  họat động vừa được thực hiện.

 

  1. Chưa có phản hồi.
  1. No trackbacks yet.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: